Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng tại Việt Nam được xây dựng trên nền tảng hệ thống pháp luật đất đai, trong đó trục chính là Luật Đất đai, các nghị định hướng dẫn và quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Về nguyên tắc, Nhà nước thực hiện thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất thông qua cơ chế bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Nguyên tắc cốt lõi là công khai, minh bạch, dân chủ, kịp thời và đúng pháp luật, hạn chế tối đa khiếu nại, tố cáo phát sinh từ quá trình thu hồi đất. Bên cạnh đó, chính sách phải bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi, tránh tình trạng áp đặt đơn phương hoặc thương lượng thiếu cơ sở pháp lý.
Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng áp dụng đối với các trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án hạ tầng giao thông, khu đô thị, khu công nghiệp, công trình công cộng, dự án năng lượng, cũng như các dự án phát triển kinh tế – xã hội khác được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đối tượng được bồi thường chủ yếu là người sử dụng đất hợp pháp, bao gồm hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất. Đối với các trường hợp sử dụng đất không có giấy tờ nhưng đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận theo quy định, cơ quan chức năng sẽ xem xét để được bồi thường hoặc hỗ trợ phù hợp. Người đang thuê đất trả tiền thuê hàng năm, hoặc sử dụng đất lấn chiếm, sử dụng sai mục đích thường không thuộc diện được bồi thường về đất, nhưng có thể được xem xét hỗ trợ một phần chi phí di dời, ổn định đời sống nếu đáp ứng điều kiện cụ thể.
Giá trị bồi thường về đất được xác định dựa trên giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm thu hồi, trên cơ sở khung giá đất, bảng giá đất và kết quả tư vấn xác định giá đất. Cơ chế này nhằm tiệm cận với giá thị trường trong điều kiện bình thường, hạn chế chênh lệch quá lớn giữa giá bồi thường và giá giao dịch thực tế. Quá trình xác định giá đất cụ thể thường bao gồm các bước: khảo sát giá chuyển nhượng trên thị trường, áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp, chiết trừ, thu nhập hoặc thặng dư; tổ chức hội đồng thẩm định giá đất; lấy ý kiến của người có đất bị thu hồi trong phạm vi dự án. Đối với đất nông nghiệp, giá bồi thường còn tính đến yếu tố năng suất, điều kiện canh tác, vị trí, khả năng chuyển đổi mục đích sử dụng trong tương lai. Đối với đất ở, ngoài yếu tố vị trí, hạ tầng, còn phải cân nhắc khả năng tiếp cận dịch vụ công, trường học, y tế, việc làm, nhằm bảo đảm người dân sau khi bị thu hồi đất không bị thiệt thòi quá lớn về điều kiện sống.
Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng bao gồm hai nhóm chính: bồi thường về đất và bồi thường về tài sản gắn liền với đất. Bồi thường về đất có thể thực hiện theo hai hình thức: bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể hoặc bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng, tương đương về giá trị. Trong nhiều dự án, hình thức bồi thường bằng đất tái định cư hoặc đất sản xuất được ưu tiên để bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân. Đối với tài sản gắn liền với đất, chính sách bồi thường áp dụng cho nhà ở, công trình xây dựng, cây trồng, vật nuôi, hệ thống hạ tầng kỹ thuật do người sử dụng đất đầu tư hợp pháp. Mức bồi thường căn cứ vào giá trị còn lại của công trình, đơn giá cây trồng, vật nuôi do địa phương ban hành, đồng thời xem xét yếu tố đặc thù như công trình kiến trúc truyền thống, cây lâu năm có giá trị kinh tế cao, công trình sản xuất kinh doanh có tính đặc thù kỹ thuật.
Bên cạnh bồi thường, hệ thống chính sách còn thiết kế nhiều cơ chế hỗ trợ và tái định cư nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến đời sống người dân. Các khoản hỗ trợ phổ biến gồm: hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, hỗ trợ thuê nhà tạm cư trong thời gian chờ bố trí tái định cư, hỗ trợ di chuyển tài sản, hỗ trợ đối với hộ nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách. Khu tái định cư phải được quy hoạch đồng bộ, có hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tương đương hoặc tốt hơn nơi ở cũ, bảo đảm người dân có điều kiện tiếp cận việc làm, giáo dục, y tế. Trong nhiều trường hợp, chính sách cho phép người dân lựa chọn giữa nhận tiền bồi thường để tự lo chỗ ở hoặc nhận suất tái định cư theo quy hoạch, tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng của từng hộ. Việc bố trí tái định cư phải hoàn thành trước khi thu hồi đất ở, tránh tình trạng người dân bị đẩy vào cảnh không có nơi cư trú ổn định.
Quy trình bồi thường giải phóng mặt bằng thường trải qua các bước chặt chẽ, có sự tham gia của nhiều cơ quan chuyên môn. Trước hết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành thông báo thu hồi đất, công khai mục đích, phạm vi, thời gian và kế hoạch thực hiện. Tiếp theo, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành kiểm kê đất đai, tài sản, xác định nguồn gốc sử dụng đất, lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Phương án này phải được niêm yết công khai, lấy ý kiến người dân, giải trình tiếp thu và điều chỉnh khi cần thiết. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức chi trả bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư và thực hiện cưỡng chế thu hồi đất nếu người có đất bị thu hồi không chấp hành quyết định đã có hiệu lực. Trong suốt quá trình, yêu cầu quan trọng là minh bạch thông tin, giải thích rõ căn cứ pháp lý, cách tính toán, quyền và nghĩa vụ của người dân để hạn chế tranh chấp.
Trong thực tiễn, chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng thường đối mặt với nhiều rủi ro và xung đột. Nguyên nhân phổ biến là chênh lệch giữa giá bồi thường và giá thị trường, dẫn đến tâm lý cho rằng người dân bị thiệt thòi so với nhà đầu tư. Bên cạnh đó, việc xác định nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng, tình trạng lấn chiếm, xây dựng không phép gây khó khăn cho cơ quan chức năng và tạo ra tranh cãi về đối tượng, mức bồi thường. Một số dự án chậm bố trí tái định cư, hạ tầng khu tái định cư không đáp ứng nhu cầu thực tế, làm phát sinh khiếu nại kéo dài. Ngoài ra, công tác tuyên truyền, vận động, đối thoại với người dân đôi khi còn hình thức, thiếu thông tin chuyên sâu, khiến người dân không hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ, dẫn đến tâm lý phản đối, thậm chí xung đột tại hiện trường.
Để nâng cao hiệu quả chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp từ hoàn thiện pháp luật đến cải thiện thực thi. Trước hết, cần tiếp tục cải cách cơ chế xác định giá đất theo hướng sát với giá thị trường, tăng cường vai trò của tổ chức tư vấn định giá độc lập, áp dụng đa dạng phương pháp định giá và công khai kết quả để người dân giám sát. Thứ hai, cần chuẩn hóa quy trình kiểm kê, đo đạc, lập phương án bồi thường bằng ứng dụng công nghệ số, bản đồ địa chính hiện đại, cơ sở dữ liệu đất đai tập trung, giảm thiểu sai sót và tranh chấp về diện tích, loại đất. Thứ ba, phải coi công tác tái định cư và phục hồi sinh kế là trọng tâm, không chỉ dừng ở việc bố trí chỗ ở mà còn hỗ trợ đào tạo nghề, kết nối việc làm, tín dụng ưu đãi cho sản xuất kinh doanh. Cuối cùng, cần tăng cường đối thoại, tham vấn cộng đồng ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án, lắng nghe ý kiến người dân, điều chỉnh thiết kế, tuyến đường, vị trí công trình khi có thể, nhằm giảm thiểu số hộ bị ảnh hưởng và tạo sự đồng thuận xã hội.
Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng chỉ phát huy hiệu quả khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể: cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, nhà đầu tư và cộng đồng dân cư. Cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm ban hành văn bản quy phạm, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm. Chính quyền địa phương giữ vai trò trung tâm trong việc tổ chức thực hiện, nắm bắt tâm tư người dân, giải quyết vướng mắc phát sinh. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường phải bảo đảm tính chuyên nghiệp, khách quan, tuân thủ quy trình, lưu trữ hồ sơ đầy đủ. Nhà đầu tư cần chủ động phối hợp, bố trí nguồn vốn kịp thời, tham gia đối thoại, chia sẻ lợi ích với cộng đồng thông qua các chương trình an sinh, hỗ trợ sinh kế. Cộng đồng dân cư, với tư cách là đối tượng chịu tác động trực tiếp, có quyền yêu cầu cung cấp thông tin, tham gia góp ý phương án bồi thường, đồng thời có nghĩa vụ chấp hành quyết định thu hồi đất hợp pháp, tạo điều kiện cho dự án triển khai đúng tiến độ.